Toàn tỉnh hiện tại chỉ có 2 HTX được cấp chứng nhận sản xuất rau an toàn (VietGAP) với diện tích chưa đầy 5 hécta. Tuy vậy, cả 2 HTX trên đều không thể mở rộng được diện tích và tăng lợi nhuận.
Không đủ bù chi phí
Để có được chứng nhận rau an toàn VietGAP, các HTX cũng như chính quyền địa phương, ngành nông nghiệp phải đổ vào không ít tiền bạc, công sức. Tuy nhiên, hiệu quả mang lại chỉ nằm ở mức mô hình điểm, không thể nhân rộng. Ông Phạm Trọng Thủy, Chủ nhiệm HTX rau Xuân Bắc ở xã Xuân Bắc (huyện Xuân Lộc), cho hay: “Hầu hết các xã viên đều nắm bắt quy trình sản xuất rau an toàn và có áp dụng một số công đoạn. Song làm rau an toàn theo đúng các quy trình để được cấp giấy chứng nhận thì ít người mặn mà do chi phí cao hơn, nhưng giá bán chỉ bằng hoặc thấp hơn rau bình thường”.
Sản xuất rau an toàn tại Hợp tác xã rau Trảng Dài (TP. Biên Hòa). Ảnh: K.Minh
Đây chính là rào cản lớn, không khuyến khích nông dân trong tỉnh tham gia sản xuất rau an toàn. Năm 2007, Đồng Nai có 5 đơn vị chứng nhận sản xuất rau an toàn thì đến thời điểm này chỉ còn 2 cơ sở là HTX rau Trảng Dài (TP. Biên Hòa) và HTX rau Trường An (huyện Xuân Lộc). HTX rau Trảng Dài hiện hoạt động không hiệu quả dù được sự hỗ trợ từ tỉnh và TP. Biên Hòa.
“Rau an toàn khó vào hệ thống siêu thị vì họ đặt mua số lượng ít, phải giao tận nơi và giá chỉ tương đương bán cho thương lái vào tận vườn mua. Do đó, HTX không ký hợp đồng bán hàng cho siêu thị” - ông Vũ Văn Vương, Chủ nhiệm HTX rau Trường An nói.
Lệ thuộc thị trường
Chính vì đầu ra khó khăn, giá bán chỉ bằng các loại rau trôi nổi, trong khi vốn đầu tư cao nên nhiều người dân từ chối tham gia làm rau an toàn.
Ông Trần Lâm Sinh, Phó chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật (BVTV) tỉnh thừa nhận: “Hiện nay, chất lượng rau còn lệ thuộc vào thị trường. Khi nào giá rau cao thì chất lượng khó đảm bảo vì nông dân bón nhiều phân hóa học để rau nhanh lớn và ít đảm bảo thời gian cách ly. Còn khi rau rẻ, nông dân bón ít phân nên chất lượng thường đảm bảo hơn”. Thực tế này tồn tại nhiều năm và không thể thay đổi trong một sớm một chiều.
Nhà kho sơ chế rau của Hợp tác xã rau Trường An (huyện Xuân Lộc) được Nhà nước hỗ trợ hơn 300 triệu đồng xây dựng, nhưng ít khi dùng tới.
Ông Sinh cũng chia sẻ, việc quản lý chất lượng rau hiện nay chủ yếu bằng 2 giải pháp: tuyên truyền khuyến cáo nông dân dùng các loại thuốc BVTV ít độc và đảm bảo thời gian cách ly để rau “nhả” bớt thuốc trước khi đem bán. Khi phát hiện rau có tồn dư thuốc BVTV vượt ngưỡng, chi cục cũng chỉ gửi kết quả về địa phương để nhắc nhở các hộ sản xuất.
Theo Quyết định 1572 của UBND tỉnh, Đồng Nai có Chương trình phát triển sản xuất, sơ chế, tiêu thụ rau quả an toàn trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015. Tổng kinh phí để thực hiện chương trình này gần 140 tỷ đồng. Tuy nhiên, sau một thời gian, chương trình chỉ triển khai được với cây bưởi Tân Triều, xoài Phú Lý (huyện Vĩnh Cửu) và chôm chôm xã Bình Lộc (TX. Long Khánh).
Hàng năm, một số cơ quan chuyên ngành của tỉnh cũng lấy mẫu kiểm tra chất lượng rau sản xuất tại ruộng trước khi đưa ra chợ, song kết quả về chất lượng mỗi đơn vị một khác. Cụ thể, kết quả kiểm tra của Chi cục BVTV trên các rau ăn lá, ăn quả trong năm 2012 có tỷ lệ dư lượng thuốc BVTV trên 6% số mẫu, song kết quả của Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm và thủy sản tỉnh lại lên đến trên 9%. Thực tế, việc lấy mẫu rau kiểm tra dư lượng thuốc BVTV chỉ phản ánh được một phần chất lượng rau trên thị trường, bởi mỗi huyện, thị mỗi năm chỉ lấy vài chục mẫu.
Qua khảo sát tại một số vùng trồng rau lớn trong tỉnh, có thể thấy nhiều hộ vẫn dùng các loại thuốc BVTV độc hại để phun phòng trừ bệnh cho các loại rau ăn lá, ăn quả. Một nông dân trồng rau ở xã Gia Tân 3 (huyện Thống Nhất) giải thích: “Thời tiết khắc nghiệt, rau bị sâu bệnh nhiều nên tôi buộc phải sử dụng thuốc trừ sâu loại độc để phun xịt mới hết. Nếu không phun, rau xấu, thương lái chê sẽ khó bán”.
Khánh Minh/ Báo Đồng Nai
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét