VINAGRI News - Trong 8 tháng đầu năm, Việt Nam nhập khẩu hơn 600.000 tấn thịt, trong đó Ấn Độ và Brazil tiếp tục là nhà cung cấp lớn các sản phẩm thịt trâu, thịt heo cho nước ta.
Thịt bò nhập khẩu được bày bán tại một siêu thị ở TP.HCM. Ảnh: Anh Nguyễn.
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 658.700 tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 1,91 tỷ USD, tăng 5,6% về lượng và 26,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Ấn Độ, Brazil tiếp tục là nhà cung cấp lớn
Trong 8 tháng đầu năm 2026, Ấn Độ tiếp tục là thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam, chiếm hơn 20% tổng lượng thịt và các sản phẩm từ thịt nhập khẩu của cả nước. Sản lượng thịt đạt 134.200 tấn, trị giá 580,8 triệu USD, tăng 17% về lượng và 44% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Ngoài Ấn Độ, nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt từ một số thị trường cung cấp khác cũng tăng cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025, bao gồm Mỹ, Brazil, Tây Ban Nha, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, New Zealand, Slovenia...
Trái lại, nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt đến từ một số thị trường như Nga, Canada, Hàn Quốc, Ba Lan, Hà Lan, Italy, Iran, Hong Kong (Trung Quốc), Algeria,... giảm cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.
Về chủng loại, Cục Hải quan cho biết nhập khẩu thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ (của gia cầm thuộc nhóm 01.05) tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm hơn 36% về lượng và gần 13% về trị giá.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng nhập khẩu một lượng lớn thịt trâu tươi đông lạnh, chiếm gần 19% về lượng và 29% về trị giá; thịt bò tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm khoảng 6% về lượng và gần 14% về trị giá.
Riêng nhập khẩu thịt heo tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh đạt 124.100 tấn, với trị giá gần 213 triệu USD, tăng 19% về lượng, nhưng giảm 24% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá trung bình nhập khẩu thịt heo tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh về Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2026 ở mức 1.712 USD/tấn, giảm gần 36% so với cùng kỳ.
Về cơ cấu thị trường, tính riêng trong 8 tháng qua, Việt Nam nhập thịt heo từ 19 thị trường, trong đó Brazil là thị trường lớn nhất, chiếm 45% tổng lượng thịt heo nhập khẩu của cả nước. Tiếp đến là Nga chiếm hơn 21%, Tây Ban Nha 20%, Đức 5%, còn lại là các thị trường khác.
Bên cạnh các mặt hàng trên, phụ phẩm ăn được sau giết mổ của heo, trâu, bò sống ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 15% về lượng và hơn 7% về trị giá. Còn các mặt hàng khác chiếm gần 5% về lượng và hơn 26% về trị giá trong tổng nhập khẩu chủng loại thịt 8 tháng đầu năm 2026.
Hong Kong (Trung Quốc) là khách hàng mua thịt lớn của Việt Nam
Ở chiều ngược lại, 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 12.400 tấn thịt và các sản phẩm thịt, trị giá gần 82 triệu USD, giảm 16% về lượng, nhưng lại tăng 4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Trong cùng khoảng thời gian, thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam được xuất khẩu tới 29 thị trường.
Hong Kong (Trung Quốc) vẫn là thị trường xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt lớn nhất của Việt Nam, chiếm gần 32% về lượng và hơn 41% về trị giá, đạt 3.900 tấn, trị giá gần 34 triệu USD. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm ngoái, sản lượng giảm gần 42% và trị giá cũng giảm 27%. Thịt heo sữa nguyên con đông lạnh và thịt heo nguyên con đông lạnh là những sản phẩm chủ yếu xuất khẩu sang thị trường này.
Việc xuất khẩu thịt cùng các sản phẩm thịt sang loạt thị trường khác như Bỉ, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia... cũng có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước.
Trong khi đó, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang Trung Quốc, Pháp, Singapore, Mỹ, Campuchia, Hà Lan, Đức... lại có mức tăng trưởng tốt về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Trong 8 tháng qua, thịt heo tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh tiếp tục là nhóm thịt được xuất khẩu nhiều nhất của Việt Nam, với 4.200 tấn, trị giá 36,15 triệu USD, tức chiếm 34% về lượng và 44% về trị giá. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu giảm 23%, còn trị giá giảm 16%.
Ngoài ra, xuất khẩu thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05 tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 35% về lượng và gần 32% về trị giá.
Báo cáo cũng chỉ ra sản phẩm thịt khác và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ của động vật khác tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 30% về lượng và 22% về trị giá. Các chủng loại khác chỉ chiếm hơn 1% về lượng và 3% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2026.
Anh Nguyễn/ ZNews
Link bài viết gốc: https://znews.vn/thit-dong-lanh-o-at-ve-viet-nam-post1687325.html



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét