VINAGRI News - Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, khối lượng xuất khẩu gạo tháng 2/2026 ước đạt 640 nghìn tấn, với giá trị 289,4 triệu USD. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo đạt 1,3 triệu tấn với 599,3 triệu USD, tăng 5% về khối lượng nhưng giảm 11,2% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Nông dân An Giang thu hoạch lúa Đông Xuân. Ảnh tư liệu: Công Mạo/TTXVN
Giá gạo xuất khẩu bình quân trong 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 464,1 USD/tấn, giảm 15,4% so với cùng kỳ năm trước.
Philippines là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm 47,6% thị phần. Trung Quốc và Ghana là hai thị trường lớn tiếp theo, với thị phần lần lượt 18,3% và 8,9%.
So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu gạo tháng 1/2026 sang thị trường Philippines tăng 17,6%, sang Trung Quốc tăng 5,8 lần, trong khi xuất khẩu sang Ghana giảm 31%.
Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh nhất tại thị trường Trung Quốc (gấp 5,8 lần) và giảm mạnh nhất tại thị trường Bờ Biển Ngà (giảm 90,9%).
Theo các doanh nghiệp xuất khẩu, giá gạo 5% tấm của Việt Nam hiện được chào bán ở mức 360 - 365 USD/tấn, không đổi so với tuần trước. Một thương nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết hoạt động giao dịch đang diễn ra chậm do người mua có tâm lý chờ đợi giá giảm thêm, trong khi nguồn cung trong nước đang tăng lên khi vụ thu hoạch Đông Xuân bước vào giai đoạn cao điểm.
Dữ liệu sơ bộ cho thấy trong tháng 2/2026, các cảng phía Nam đã xếp dỡ hơn 382.000 tấn gạo, phần lớn được xuất sang Philippines và châu Phi. Mặc dù xung đột tại Iran chưa ảnh hưởng trực tiếp đến các lô hàng từ Việt Nam đi châu Phi, nhưng các thương nhân xác nhận chi phí vận chuyển đã tăng đáng kể do phí bảo hiểm và giá nhiên liệu leo thang.
Trong khi gạo Việt Nam vẫn duy trì mức giá ổn định tuần qua thì giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ đã ghi nhận mức giảm do nguồn cung dư thừa và đồng rupee mất giá kỷ lục. Giá gạo Thái Lan cũng có xu hướng giảm nhẹ giữa bối cảnh căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông đang tác động mạnh đến hoạt động vận tải biển.
Tại Ấn Độ, giá gạo đồ 5% tấm giảm xuống còn từ 348 - 353 USD/tấn so với mức từ 350 - 356 USD/tấn của tuần trước. Gạo trắng 5% tấm được niêm yết ở mức 346 - 351 USD/tấn. Việc đồng rupee rơi xuống mức thấp kỷ lục trong tuần này đã giúp các nhà xuất khẩu nới rộng biên lợi nhuận và giảm giá bán để thu hút người mua quốc tế.
Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu gạo Ấn Độ đang đối mặt với khó khăn lớn về logistics. Khoảng 400.000 tấn gạo Basmati hiện đang bị ùn ứ tại các cảng hoặc trên đường vận chuyển. Các hợp đồng xuất khẩu mới bị đình trệ do cước vận tải đã tăng gấp hai lần kể từ khi xung đột Mỹ - Israel với Iran bùng phát.
Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm cũng giảm từ 385 USD xuống còn 380 USD/tấn. Các nhà giao dịch tại Bangkok nhận định gạo Thái đang chịu áp lực cạnh tranh gay gắt về giá từ Ấn Độ, đồng thời lo ngại hiện tượng El Nino có thể làm giảm sản lượng trong thời gian tới.
Thị trường lúa gạo đang chịu tác động trực tiếp từ cuộc xung đột Mỹ - Israel và Iran. Chiến sự đã lan rộng sau khi Mỹ tấn công một tàu chiến Iran ngoài khơi Sri Lanka, làm tê liệt hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz.
Tập đoàn kinh doanh ngũ cốc toàn cầu Bunge cho biết họ đang khẩn trương tìm kiếm các tuyến vận tải thay thế để giảm thiểu gián đoạn. Trong khi đó, tại Bangladesh, chính phủ nước này đã yêu cầu các bộ ngành hành động khẩn cấp để kìm hãm đà tăng giá gạo trong nước, bất chấp việc đã tăng cường nhập khẩu thông qua cả kênh nhà nước và tư nhân.
Về thị trường lúa gạo trong nước, tại An Giang, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.000 - 6.200 đồng/kg, với sự giảm mạnh 400 đồng/kg; IR 50404 vẫn ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; OM 5451 từ 5.800 - 6.000 đồng/kg; OM 4218 khoảng 6.200 - 6.400 đồng/kg; OM 34 từ 5.200 - 5.400 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 vẫn ở mức 9.150 - 9.350 đồng/kg. Các loại gạo nguyên liệu xuất khẩu khác dao động: CL 555 từ 7.950 - 8.050 đồng/kg; IR 504 từ 8.000 - 8.100 đồng/kg; OM 18 từ 8.900 - 9.100 đồng/kg; OM 380 từ 7.500 - 7.600 đồng/kg; OM 5451 từ 8.300 - 8.400 đồng/kg; Sóc Thơm từ 7.500 - 7.600 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR 504 ở mức 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Phụ phẩm dao động 7.650 - 11.500 đồng/kg; trong đó tấm IR 504 tăng 100 đồng/kg lên mức mức 7.650 - 7.750 đồng/kg, cám 10.500 - 11.500 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, gạo Nàng Nhen có giá cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; Jasmine 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; Sóc thường 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thường 12.000 - 13.000 đồng/kg; Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg.
Bích Hồng - Minh Hằng (TTXVN)
Link bài viết gốc: https://baotintuc.vn/kinh-te/xuat-khau-gao-tang-5-ve-luong-gia-binh-quan-giam-manh-20260308164033609.htm

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét