Trồng và chế biến cà phê: Từ tri thức bản địa đến tiêu chuẩn hàng hóa xuất khẩu - TIN TỨC NÔNG NGHIỆP

Breaking

Home Top Ad

CHỈ TIN TỨC NÔNG NGHIỆP

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2026

Trồng và chế biến cà phê: Từ tri thức bản địa đến tiêu chuẩn hàng hóa xuất khẩu

VINAGRI News - Không chỉ là cây trồng chủ lực hay mặt hàng xuất khẩu tỷ đô, cà phê Đắk Lắk còn kết tinh trong đó một hệ tri thức bản địa phong phú, được cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên bồi đắp, gìn giữ qua nhiều thế hệ.

 

Khi tri thức ấy được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, cà phê Đắk Lắk đang đứng trước cơ hội chuyển hóa giá trị văn hóa thành sức mạnh cạnh tranh mới trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu.


Tri thức bản địa - “Hồn” của cà phê Đắk Lắk


Khu vực Tây Nguyên là vùng đất đặc biệt về chính trị, kinh tế và đa dạng văn hóa. Giá trị văn hóa truyền thống Tây Nguyên được hình thành và phát triển trên nền tảng của một nền văn minh nương rẫy, tạo nên hệ tri thức ứng xử hài hòa giữa con người với môi trường tự nhiên và tác động không ngừng đối với kinh tế, xã hội toàn vùng.


Từ khi cây cà phê được người Pháp du nhập vào Tây Nguyên cuối thế kỷ XIX, Buôn Ma Thuột và các vùng phụ cận đã nhanh chóng trở thành trung tâm sản xuất cà phê lớn nhất cả nước. Đặc biệt, khác với lối canh tác độc canh "vắt kiệt" sức đất, người dân nơi đây nhìn nhận vườn cây như một hệ sinh thái thu nhỏ. Chính vì vậy, tại các vùng trồng cà phê trọng điểm của Đắk Lắk, người dân từ xưa đã biết trồng xen cà phê dưới tán các cây rừng lớn hoặc cây ăn trái.


Bên cạnh đó, việc chọn giống, trồng xen canh, thu hái, phơi, rang xay đến pha chế - mọi công đoạn đều kết hợp yếu tố bản địa và kiến thức canh tác hiện đại, tạo nên một hệ thống thực hành vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang đậm chiều sâu văn hóa. Chính chuỗi thực hành ấy đã khiến cà phê nơi đây trở thành một “di sản sống” - nơi kinh tế, văn hóa và bản sắc cộng đồng giao thoa, hiện hữu trong nhịp sống và hình thành nên một không gian văn hóa cà phê đặc trưng của phố núi.


Người dân thu hoạch cà phê theo phương pháp hái chọn quả chín để chế biến cà phê chất lượng cao.


Ông Y Kut Knuol (SN 1952 ở buôn Krông A, phường Tân An) cho hay, cà phê không phải là loại cây bản địa nhưng khi được trồng ở vùng đất này thì cà phê mang dấu ấn canh tác của người dân nơi đây. Người dân Đắk Lắk từ xưa đã biết nương theo địa hình để giữ nước, trồng cây che bóng để giảm bốc hơi nước. Nói về năng suất thì có thể không bằng những vườn trồng thuần nhưng các vườn cây này tạo được sự bền vững với môi trường thiên nhiên. Đặc biệt, những vườn cà phê (rẫy cà phê) là không gian thực hành, biểu hiện cho tri thức trồng và chế biến cà phê của cộng đồng cư dân. Vườn cà phê có thể nói là tài sản được kế tục qua các thế hệ trong gia đình.


Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã đưa “Tri thức trồng và chế biến cà phê Đắk Lắk” vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (theo Quyết định số 548/QĐ-BVHTTDL ngày 5/3/2025). Theo đó, chủ thể văn hóa của “Tri thức trồng và chế biến cà phê” là những cá nhân, gia đình nắm giữ tri thức trồng và chế biến cà phê được trao truyền qua các thế hệ trong gia đình, cộng đồng, bao gồm hầu hết những người dân tộc tại chỗ như Êđê, M’nông và cả những người nhập cư từ nơi khác đến đây sinh sống và trồng cà phê từ những năm 50 của thế kỷ XX.


Theo đánh giá của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, trải qua hơn một thế kỷ gắn bó với cây cà phê, cộng đồng các dân tộc Êđê, M’nông, Kinh cùng những nhóm di cư từ miền Bắc đã gây dựng và lưu truyền một kho tàng tri thức phong phú - từ khâu chọn đất, gieo trồng, chăm sóc, thu hái, chế biến, bảo quản cho đến cách thưởng thức.


Tất cả tạo nên một không gian văn hóa cà phê độc đáo, nơi lao động, kinh nghiệm và cảm xúc giao hòa thành bản sắc - vừa mang tính bản địa, vừa có khả năng lan tỏa toàn cầu.


Ngày nay, khi cà phê không chỉ là mặt hàng nông sản chiến lược mà còn trở thành biểu tượng văn hóa của Việt Nam trên trường quốc tế, việc nhận diện, bảo tồn và phát huy tri thức cà phê Đắk Lắk trở thành nhiệm vụ vừa cấp thiết vừa mang tầm chiến lược.


Nền tảng của tiêu chuẩn ngành hàng


Với 90% sản phẩm đầu ra phục vụ xuất khẩu, ngành cà phê đã và đang hội nhập sâu rộng với thị trường quốc tế. Năm 2025, cà phê Việt Nam xuất khẩu đến hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, với sản lượng đạt 1,48 triệu tấn, trị giá 8,36 tỷ USD. Trong đó, sản lượng xuất khẩu cà phê của Đắk Lắk đạt 240.000 tấn, tăng hơn 105% so với năm 2024.


Thế giới đang nỗ lực thực hiện các hoạt động nhằm giảm tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, trong đó có nguyên nhân do mất rừng, các quy định của thị trường ngày càng siết chặt theo hướng giảm rủi ro về mất rừng trong chuỗi cung ứng hàng hóa.


Gần đây nhất là Quy định chống mất rừng của Liên minh Châu Âu (EUDR) yêu cầu các sản phẩm nông lâm sản, bao gồm cà phê, nhập khẩu vào EU, cần bảo đảm đáp ứng được tất cả yêu cầu pháp lý về không gây mất rừng và suy thoái rừng.


Điều này cũng cho thấy, việc công nhận tri thức trồng cà phê là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là cơ sở pháp lý và khoa học quan trọng. Nó khẳng định kỹ thuật canh tác của bà con rất phù hợp với các bộ tiêu chuẩn quốc tế như Rainforest Alliance về nông trại bền vững. Đây là “giấy thông hành” xanh để cà phê Đắk Lắk vượt qua các rào cản kỹ thuật như EUDR, thâm nhập sâu vào các thị trường khó tính.


Các trang trại cà phê lựa chọn kỹ nguyên liệu từ khâu chế biến để nâng cao giá trị sản phẩm.


Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, nhiều năm qua, Đắk Lắk luôn tiên phong triển khai các chương trình phát triển cà phê chất lượng cao, tái canh bền vững và nâng cao giá trị chuỗi cung ứng. Từ năm 2008 đến nay, tỉnh đã thực hiện nhiều dự án quan trọng; đặc biệt, vùng trồng của Đắk Lắk đã đạt chứng nhận sản phẩm không gây mất rừng 4C-EUDR của EU đầu tiên của thế giới và hiện đã số hóa 35% diện tích cà phê toàn tỉnh.


Theo ông Trịnh Đức Minh, Chủ tịch Hiệp hội cà phê Buôn Ma Thuột, đối với Đắk Lắk, việc triển khai sớm việc đáp ứng quy định này cho thấy sự nhanh nhạy của chính quyền tỉnh và các doanh nghiệp trong ngành, giúp ngành hàng cà phê - ngành xuất khẩu chủ lực của tỉnh nâng cao uy tín, giá trị và vị thế trên thị trường quốc tế. Chính nhờ những nỗ lực này mà Liên minh châu Âu đã xếp Việt Nam vào nhóm “rủi ro thấp” trong thực thi Quy định EUDR, chỉ kiểm tra 1% lô hàng nhập khẩu.


Minh Thuận/ Báo Đăk Lăk


Link bài viết gốc: https://baodaklak.vn/kinh-te/202603/trong-va-che-bien-ca-phe-tu-tri-thuc-ban-dia-den-tieu-chuan-hang-hoa-xuat-khau-b3a34eb/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét