Giá cà phê trong nước ngày 11/3 giảm mạnh 800 - 1.000 đồng/kg, xuống còn 95.400 - 95.800 đồng/kg - TIN TỨC NÔNG NGHIỆP

Breaking

Home Top Ad

CHỈ TIN TỨC NÔNG NGHIỆP

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2026

Giá cà phê trong nước ngày 11/3 giảm mạnh 800 - 1.000 đồng/kg, xuống còn 95.400 - 95.800 đồng/kg

VINAGRI News - Đóng cửa phiên giao dịch ngày thứ Ba (10/3), giá cà phê trực tuyến robusta hợp đồng giao kỳ hạn tháng 5/2026 trên sàn giao dịch London giảm mạnh xuống còn 3.692 USD/tấn, giảm 2,09% (-79 USD/tấn) so với phiên giao dịch trước. Các kỳ hạn gần khác cũng giảm mạnh, hợp đồng giao kỳ hạn tháng 3/2026 giảm 2,06% (-79 USD/tấn), xuống còn 3.751 USD/tấn. Hợp đồng kỳ hạn tháng 7/2026 giảm mạnh 1,96% (-72 USD/tấn) xuống còn 3.596 USD/tấn.



Quy đổi ra tiền Việt, giá robusta kỳ hạn giao tháng 5/2026 hiện đang ở mức 96.900 đồng/kg, theo tỷ giá hiện tại là 1 USD = 26.248,99 Đồng


Giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên sáng ngày 11/3 giảm mạnh 800 - 1.000 đồng/kg, xuống còn 95.400 - 95.800 đồng/kg, cụ thể như sau:


Tại khu vực tỉnh Lâm Đồng, cà phê robusta được thu mua với giá khoảng 95.400 đồng/kg (giảm mạnh 1.000 đồng/kg)


Tại khu vực Đắk Lắk, giá cà phê đang được thu mua ở mức giá 95.700 - 95.800 đồng/kg (giảm mạnh 800 đồng/kg)


Tại khu vực tỉnh Đắk Nông (cũ), cà phê có giá từ 95.500 - 95.600 đồng/kg (giảm mạnh 900 đồng/kg)


Tại tỉnh Gia Lai, giá cà phê đang ở mức 95.700 - 95.800 đồng/kg (giảm mạnh 800 đồng/kg).


Cà phê tại khu vực tỉnh Kon Tum (cũ) được thu mua với mức giá 95.700 đồng/kg (giảm mạnh 800 đồng/kg).


Với mức giá trung bình là 95.700 đồng/kg thì giá cà phê robusta trong nước hiện đang thấp hơn giá kỳ hạn tháng 5/2026 trên sàn London1.200 đồng/kg (tương đương với thấp hơn khoảng 45,72 USD/tấn).


Sau khi quay đầu giảm trong phiên giao dịch ngày 10/3, thị trường cà phê thế giới được dự báo sẽ tiếp tục biến động thận trọng trong phiên kế tiếp khi các nhà đầu tư đánh giá lại cán cân cung - cầu và yếu tố vĩ mô. Giá robusta kỳ hạn tháng 5/2026 trên sàn ICE London đã giảm mạnh xuống 3.692 USD/tấn trong phiên trước, chủ yếu do hoạt động chốt lời sau khi thị trường tăng liên tục trong khoảng một tuần rưỡi.


Áp lực điều chỉnh nhiều khả năng vẫn còn trong ngắn hạn khi tồn kho cà phê do Sở Giao dịch Liên lục địa (ICE) giám sát đang dần phục hồi. Tồn kho arabica đã tăng lên mức cao nhất trong khoảng 5 tháng, trong khi tồn kho robusta cũng phục hồi từ mức thấp nhất trong hơn một năm. Diễn biến này làm giảm bớt lo ngại về tình trạng thiếu hụt nguồn cung ngắn hạn trên thị trường.


Bên cạnh đó, triển vọng sản lượng cà phê toàn cầu cải thiện cũng đang tạo sức ép lên giá. Cơ quan dự báo mùa vụ Brazil (Conab) cho rằng sản lượng cà phê của nước này trong năm 2026 có thể đạt khoảng 66,2 triệu bao, tăng hơn 17% so với năm trước. Trong khi đó, Rabobank dự báo sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ 2026/27 có thể đạt mức kỷ lục khoảng 180 triệu bao, cao hơn khoảng 8 triệu bao so với niên vụ trước.


Nguồn cung robusta cũng đang chịu áp lực từ Việt Nam - quốc gia sản xuất robusta lớn nhất thế giới. Xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong hai tháng đầu năm 2026 đã tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, trong khi sản lượng niên vụ 2025/26 được dự báo tăng lên mức cao nhất trong bốn năm.


Tuy nhiên, đà giảm của thị trường có thể bị hạn chế bởi một số yếu tố hỗ trợ. Xuất khẩu cà phê của Brazil trong tháng 2 giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nguồn cung giao ngay vẫn chưa thực sự dồi dào. Ngoài ra, lượng mưa tại bang Minas Gerais - vùng trồng arabica lớn nhất Brazil - vẫn ở mức thấp so với trung bình nhiều năm, làm dấy lên lo ngại về rủi ro thời tiết đối với sản lượng.


Bên cạnh đó, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông vẫn là yếu tố khó lường đối với thị trường hàng hóa. Bất kỳ gián đoạn nào đối với các tuyến vận tải chiến lược có thể làm gia tăng chi phí logistics và ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng cà phê toàn cầu.


Với bối cảnh trên, trong phiên giao dịch ngày 11/3, giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 5/2026 trên sàn ICE London nhiều khả năng sẽ tiếp tục dao động trong biên độ hẹp khi thị trường cân bằng giữa áp lực nguồn cung và các yếu tố rủi ro bên ngoài. Mức hỗ trợ gần được nhận định quanh vùng 3.650 - 3.670 USD/tấn, trong khi vùng kháng cự ngắn hạn nằm trong khoảng 3.730 - 3.760 USD/tấn. Nếu lực bán tiếp tục chiếm ưu thế, giá có thể kiểm định lại vùng hỗ trợ thấp hơn quanh 3.600 USD/tấn; ngược lại, sự xuất hiện của lực mua kỹ thuật có thể giúp thị trường phục hồi nhẹ trở lại trong phiên.


(*) Thông tin giá cả trên thị trường có thể thay đổi tùy theo từng hoàn cảnh khác nhau. Thông tin ở đây hoàn toàn không có dụng ý sử dụng để kinh doanh dưới bất kỳ hình thức nào.


NPK/ Vinagri News

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét