Ngành chè Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu - TIN TỨC NÔNG NGHIỆP

Breaking

Home Top Ad

CHỈ TIN TỨC NÔNG NGHIỆP

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

Ngành chè Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu

VINAGRI News - Tái cấu trúc chuỗi giá trị chè giai đoạn 2026 - 2030 đòi hỏi chuyển đổi từ cung ứng thụ động sang kiến tạo giá trị dựa trên tín hiệu cầu toàn cầu.


Giá xuất khẩu chè của Việt Nam chỉ tương đương 55 - 65% mức bình quân thế giới. Ảnh: Việt Hải.


Việt Nam giữ vị trí thứ 5 thế giới về xuất khẩu chè


Ngành chè toàn cầu đang trải qua giai đoạn tái cấu trúc sâu rộng dưới tác động của biến động thương mại, yêu cầu truy xuất nguồn gốc, áp lực giảm phát thải và xu hướng tiêu dùng hướng tới sản phẩm tốt cho sức khỏe. Trà giữ vị trí là thức uống được tiêu thụ nhiều thứ hai sau nước, tạo nên quy mô giao dịch quốc tế hàng trăm tỷ USD mỗi năm. Phân khúc trà hữu cơ, trà chức năng, trà thảo mộc phối trộn và trà đóng chai sẵn RTD tăng trưởng liên tục với tốc độ hai chữ số tại nhiều nền kinh tế phát triển. Chuỗi giá trị toàn cầu vì thế dịch chuyển mạnh sang khâu chế biến sâu, thiết kế bao bì, xây dựng câu chuyện thương hiệu và kiểm soát chất lượng theo chuẩn nghiêm ngặt.


Trong dòng chảy đó, Việt Nam giữ vị trí thứ 5 thế giới về sản xuất và xuất khẩu chè, sở hữu vùng nguyên liệu trải dài từ trung du miền núi phía Bắc tới Tây Nguyên với điều kiện thổ nhưỡng đa dạng.


Dẫu giữ quy mô sản lượng lớn, ngành chè Việt Nam vẫn chịu áp lực định giá thấp do cơ cấu xuất khẩu thiên về nguyên liệu thô, thiếu thương hiệu quốc tế và phụ thuộc vào thị trường trung cấp.


Năm 2025, xuất khẩu đạt 136.952 tấn với kim ngạch gần 238 triệu USD, giảm 7,07% về lượng và 0,72% về giá trị so với 2024. Tháng 1/2026 ghi nhận tăng 28% về lượng và 27% về trị giá, kim ngạch gần 21 triệu USD, phản ánh nhịp phục hồi tích cực. Giá xuất khẩu bình quân dao động 1.644 USD đến 1.737 USD/tấn, tương đương khoảng 55 - 65% mức bình quân thế giới khoảng 2.600 USD/tấn năm 2023, cho thấy dư địa nâng giá trị gia tăng còn rất lớn nếu cải thiện cấu trúc sản phẩm và chiến lược thị trường.



Nội lực sản xuất là nền móng của năng lực cạnh tranh dài hạn. Giai đoạn 2005 - 2024 ghi nhận chuyển dịch đáng chú ý về diện tích và năng suất. Diện tích đạt đỉnh 133,6 nghìn ha năm 2015 rồi thu hẹp dần về khoảng 121,9 nghìn ha năm 2024, phản ánh áp lực lợi nhuận và chuyển đổi cây trồng tại nhiều địa phương. Trái chiều với xu hướng diện tích, sản lượng búp tươi tăng từ 570 nghìn tấn năm 2005 lên 1.154,1 nghìn tấn năm 2024 nhờ giống mới chiếm khoảng 54% diện tích, áp dụng thâm canh và cải thiện kỹ thuật thu hái.


Tăng năng suất giúp duy trì nguồn cung ổn định cho chế biến và xuất khẩu, song đặt ra thách thức về dư lượng MRL khi thị trường cao cấp siết chặt kiểm soát. Quy mô nông hộ bình quân khoảng 0,2 ha/hộ khiến liên kết chuỗi lỏng lẻo, khó triển khai chứng nhận Organic, VietGAP, GlobalGAP hay Rainforest Alliance do chi phí kiểm toán và hồ sơ truy xuất cao.


Chỉ khoảng 10% nhà máy có vùng nguyên liệu tự chủ hoặc liên kết chặt, khiến chất lượng đầu vào biến động, thời gian lưu bãi kéo dài làm suy giảm hợp chất sinh học trong lá tươi trước khâu diệt men và sao sấy. Tái cấu trúc tổ chức sản xuất theo mô hình hợp tác xã quy mô lớn, hợp đồng bao tiêu dài hạn và nền tảng số truy xuất nguồn gốc trở thành điều kiện tiên quyết để nâng chuẩn chất lượng và đáp ứng thị trường khó tính.



Cấu trúc thương mại toàn cầu cho thấy phân hóa giá trị dựa trên xuất xứ và phương thức chế biến. Trung Quốc dẫn đầu trà xanh với kim ngạch 586,5 triệu USD năm 2024; Nhật Bản đạt 99,7 triệu USD; Ấn Độ 14,6 triệu USD. Với trà đen, Việt Nam xuất khẩu 51,1 triệu kg năm 2023, thu 71,88 triệu USD; thị trường chính gồm các quốc gia châu Á khác 11,27 triệu USD, Liên bang Nga 10,07 triệu USD, Iraq 8,36 triệu USD, Hoa Kỳ 6,18 triệu USD, Pakistan 5,58 triệu USD. Mức giá 1.644 USD đến 1.737 USD/tấn thấp hơn đáng kể so với Sri Lanka đạt khoảng 5.850 USD/tấn cuối 2025 nhờ định vị Ceylon tea và hệ thống đấu giá minh bạch tại Colombo; Kenya duy trì 2.140 - 2.270 USD/tấn tại Mombasa với trà CTC quy mô lớn.


Chênh lệch giá bắt nguồn từ định vị phân khúc, câu chuyện địa lý, tiêu chuẩn thu hái và bao bì thương hiệu. Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ xuất khẩu bao tải lớn sang sản phẩm đóng gói, trà đặc sản có chỉ dẫn địa lý, phát triển kênh thương mại điện tử xuyên biên giới và hợp tác với nhà phân phối sở tại để chiếm lĩnh kệ hàng cao cấp.


Rủi ro tập trung thị trường bộc lộ rõ khi Pakistan giảm mạnh nhập khẩu năm 2025 do khó khăn ngoại tệ và logistics, khiến tỷ trọng sụt xuống 7,5% tháng 1/2026 với khối lượng 930 tấn. Doanh nghiệp đã xoay trục sang Iraq tăng 51% về lượng và 49,8% về giá trị năm 2025; Philippines tăng 544,7% về lượng và 312,2% về giá trị tháng 1/2026; Nga, Ấn Độ, Ba Lan phục hồi; Thái Lan đạt 34,24% thị phần lượng nhập khẩu từ Việt Nam15,47% về giá trị nhờ hợp thị hiếu trà xanh hương nhẹ cho đồ uống pha lạnh.


Vụ 500 container tại cảng Karachi cuối 2025 cho thấy vai trò điều phối ngoại giao kinh tế cấp cao giúp tháo gỡ ách tắc, miễn trừ quy định quá cảnh và bảo toàn dòng tiền cho doanh nghiệp. Giai đoạn tới đòi hỏi chiến lược 2030 tập trung chế biến sâu, chuẩn hóa bền vững, đa dạng hóa thị trường, quản trị rủi ro logistics và xây dựng thương hiệu quốc gia để nâng giá trị trên mỗi tấn chè xuất khẩu.


Nâng chuẩn chất lượng, đa dạng hóa thị trường và xây dựng thương hiệu quốc gia


Tái cấu trúc chuỗi giá trị chè giai đoạn 2026 - 2030 đòi hỏi chuyển đổi tư duy phát triển từ cung ứng thụ động sang kiến tạo giá trị dựa trên tín hiệu cầu toàn cầu. Thị trường F&B bước vào chu kỳ ưu tiên sức khỏe, truy xuất nguồn gốc, phát thải thấp và tiện lợi tiêu dùng.


Trà được tái định nghĩa như sản phẩm hỗ trợ phòng ngừa với hàm lượng polyphenol, catechin, L-theanine phục vụ nhu cầu cải thiện miễn dịch, tiêu hóa, giấc ngủ, cân bằng tinh thần. Phân khúc trà thảo mộc và trà phối trộn ghi nhận CAGR 8,1%, cho phép định giá premium trên sàn thương mại điện tử xuyên biên giới. Thị trường RTD dự báo đạt 70,85 tỷ USD năm 2034 với tốc độ 5,9% mỗi năm, tạo nhu cầu lớn về chiết xuất trà, bột hòa tan, tinh chất ổn định hương vị.


Cấu trúc xuất khẩu phụ thuộc 94% chè xanh sao sấy phổ thông khiến Việt Nam bỏ lỡ biên lợi nhuận cao của phân khúc chức năng và RTD. Định hướng mới cần ưu tiên đầu tư hệ thống chiết xuất, cô đặc chân không, sấy phun, kiểm soát vi khí hậu bằng cảm biến IoT, chuẩn hóa chuỗi lạnh nhằm đáp ứng hợp đồng B2B quy mô lớn. Tái cấu trúc còn bao gồm phát triển danh mục bạch trà, hồng trà, trà lên men, kombucha nền trà Việt, kết nối viện nghiên cứu với doanh nghiệp để tối ưu hồ sơ cảm quan cho từng thị trường mục tiêu.


Chuẩn mực bền vững trở thành điều kiện gia nhập kệ hàng tại EUBắc Mỹ. Người tiêu dùng yêu cầu minh bạch nguồn gốc, công bằng thu nhập, bảo tồn đất và đa dạng sinh học. Chứng nhận Rainforest Alliance, Fairtrade, Organic thiết lập luật chơi mới; EUDR yêu cầu dữ liệu địa khôn gian geolocation chứng minh không liên quan phá rừng sau 31/12/2020, dù trọng tâm hiện đặt vào cà phê, ca cao, cao su.


Áp lực chi phí kiểm toán và duy trì chứng nhận tạo rào cản lớn với nông hộ 0,2 ha. Mô hình hợp tác xã quy mô lớn, chứng nhận nhóm, quỹ hỗ trợ chứng nhận quốc tế và tín dụng xanh cần được kích hoạt để san sẻ phí kiểm toán, thiết lập vùng đệm, xây dựng hồ sơ truy xuất số hóa. Hệ thống cảnh báo sớm SPS phải chuyển sang chủ động cập nhật MRL từ EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, truyền trực tiếp đến cơ sở sản xuất để điều chỉnh mùa vụ và danh mục vật tư. Tích hợp công nghệ chuỗi khối blockchain vào truy xuất cho phép khách hàng quét QR kiểm chứng lô đất, chứng chỉ, hành trình giảm phát thải, tạo giá trị vô hình quyết định định giá premium.


Khung chính sách đến 2030 xác lập mục tiêu ổn định 1,2 - 1,4 triệu tấn búp tươi, ưu tiên nâng chất thay vì mở rộng diện tích. Nguồn lực tập trung hạ tầng vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng, chế biến sâu, liên kết chuỗi. Hệ sinh thái xúc tiến thương mại 5 trụ cột định vị cụm ngành giá trị cao, đa dạng hóa thị trường dựa trên EVFTA CPTPP, kết nối mạng lưới Thương vụ làm radar chính sách, nâng năng lực SME và hợp tác xã, đẩy mạnh chuyển đổi số và xúc tiến xanh.


Cụm liên kết tại Thái Nguyên, Lâm Đồng, Phú Thọ cần ký hợp đồng bao tiêu dài hạn; doanh nghiệp cung cấp quy trình, vốn, vật tư đạt chuẩn; nông hộ tuân thủ kỷ luật canh tác sạch; nhà nước hỗ trợ tín dụng và đào tạo. Mục tiêu là dịch chuyển từ xuất khẩu bao tải lớn 1.644 - 1.737 USD/tấn lên sản phẩm thương hiệu quốc gia với biên lợi nhuận cao, giảm lệ thuộc thị trường trung cấp.



Chè Shan Tuyết cổ thụ là đòn bẩy định vị phân khúc đặc sản. Phân bố trên 800 m tại Hà Giang, Yên Bái, sinh trưởng chậm, tích lũy vi chất dày, lông mao trắng đặc trưng, phù hợp tiêu chí Organic tự nhiên. Giá bán cao gấp nhiều lần trà bulk 1,6-1,7 USD/kg, có khả năng thâm nhập trà thượng hạng Fine Tea tại châu ÂuMỹ. Chiến lược phát triển cần quy hoạch vùng lõi bảo tồn, xây dựng chỉ dẫn địa lý gắn địa danh cụ thể, kể chuyện văn hóa cộng đồng bản địa, áp dụng PGS để củng cố lòng tin người tiêu dùng hữu cơ.


Bảo tồn song hành phát triển giúp tránh khai thác tận diệt, duy trì năng suất thấp hợp lý nhằm giữ chất lượng cảm quan độc bản. Khi mỗi lô hàng tích hợp truy xuất số, chứng nhận bền vững và câu chuyện di sản, chè Việt Nam có thể chuyển dịch từ cung ứng sinh khối giá rẻ sang kiến tạo giá trị cao, thiết lập vị thế vững chắc trên bản đồ thương mại nông sản toàn cầu.


PGS.TS Nguyễn Đình Thọ - Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường/ Báo Nông nghiệp & Môi trường


Link bài viết gốc: https://nongnghiepmoitruong.vn/nganh-che-viet-nam-trong-chuoi-gia-tri-toan-cau-d798700.html

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét