Ca cao, “dục tốc bất đạt” - TIN TỨC NÔNG NGHIỆP

Breaking

Home Top Ad

CHỈ TIN TỨC NÔNG NGHIỆP

Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2013

Ca cao, “dục tốc bất đạt”

VINAGRI NewsChỉ trong vòng chừng 2 thập kỷ, ngành nông nghiệp Việt Nam đã làm nên nhiều chuyện thần kỳ. Từ một nước sản xuất không đủ dùng trong nước, Việt Nam đã trở thành nhà xuất khẩu nhiều sản phẩm nông sản lớn nhất, nhì trên thế giới hay thừa cho xuất khẩu như cà phê, điều, tiêu,… Chính vì vậy, nhiều người đã đặt kỳ vọng rất cao cho cây ca cao. Đã có nhiều khi, phong trào tăng diện tích loại cây này khá rầm rộ tại nhiều vùng miền nước ta.


Ngay cả ông Bruno Angelet, Đại sứ Vương quốc Bỉ tại Việt Nam vào ngày 24-6 tại TP. Hồ Chí Minh đã ước mong rằng trong vòng 20 năm nữa, sản phẩm ca cao Việt Nam sẽ được xuất khẩu sang Bỉ và các nước châu Âu, thông qua các cảng trung chuyển của nước ông, như đường đi hiện nay của 80% lượng cà phê nước ta, trước khi đến với các thị trường tiêu thụ lớn và truyền thống của sản phẩm này.

Theo số liệu thống kê mới nhất của ngành nông nghiệp, tính đến cuối năm ngoái, ước nước ta có khoảng chừng trên 25.000 héc ta, tăng trên 5.000 héc ta so với cuối năm 2011, trong đó có chừng 11.000 héc ta đang thu hoạch với chừng 600 kg/héc ta. Kỳ vọng đến năm 2020, ước sẽ có chừng 50.000 héc ta ca cao với sản lượng chừng từ 50.000 - 60.000 tấn/năm.

Cây ca cao được trồng chủ yếu tại một số tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, vùng Đông Nam bộ và một vài tỉnh Tây nguyên.

Kinh nghiệm cho thấy rằng ở đâu cây ca cao được trồng xen dưới tán vườn, thường cho năng suất thấp, chừng 600 kg/héc ta, nhưng lại có điều kiện chung sống lâu dài. Như trường hợp tại tỉnh Bến Tre, cây ca cao được trồng dưới tán cây dừa; hay ở Bình Phước trồng chung với cây điều. Lượng ca cao trồng xen hiện nay đang chiếm đa số, chừng 18.000 héc ta so với tổng diện tích ca cao hiện có.

Chỉ rất ít vườn có năng suất “lý tưởng” chừng 2 tấn/héc ta, có lẽ nhờ vào tính chuyên nghiệp như tại Công ty Cà phê- Ca cao Tháng Mười, thuộc tỉnh Daklak. Còn lại, nhiều nơi chuyên canh khác, nông dân đang chặt bỏ vì hiệu quả kinh tế đem lại rất thấp.

Thực vậy, đối với các tỉnh Tây nguyên và Đông Nam bộ, cây ca cao đến sau so với các cây cà phê, tiêu và điều, là những cây “nóng” trong những năm gần đây. Do vậy, quỹ đất dành cho “người đến trễ” là những nơi thường thiếu màu mỡ và thiếu nước tưới. Chính vì thế, cây ca cao ở đây lâu cho thu bói và năng suất rất thấp, không mang lại hiệu quả kinh tế so với nhiều loại cây khác chứ chưa nói đến các loại cây đang “nóng” trên thị trường.

Tuy cây ca cao được cho là “dễ chịu” hơn khi bỏ vốn đầu tư ban đầu, hiệu quả kinh tế “sờ được” nhưng hiện nay vẫn không thể nào sánh được với các sản phẩm khác. Nếu như 1 héc ta cà phê robusta cho bình quân 3 tấn, với giá đang ở mức chừng 38.000 đồng/kg, người làm ca cao thu được 5 lần ít hơn nông dân cà phê trên cùng một diện tích. So với bạn trồng tiêu, cách biệt này càng xa. Nếu giá tiêu đen hiện nay chừng 120 triệu đồng/tấn và mỗi héc ta tiêu cho bình quân 2 tấn, thu nhập trên mỗi héc ta của người trồng tiêu cao hơn trên chục lần đối với người trồng ca cao.

Đã vậy, cũng do là “người đến sau”, cho tới 2008 mới chỉ được chừng trên 10.000 héc ta, thị trường tiêu thụ, đặc biệt thị trường xuất khẩu của sản phẩm ca cao không “nhanh nhạy” như các sản phẩm khác cùng vùng. Trong khi thị trường cà phê và tiêu rất “xuôi chảy”, có bao nhiêu thị trường hút hàng bấy nhiêu với giá khá minh bạch, thì hạt ca cao chỉ được vài hãng kinh doanh nước ngoài mua ủng hộ. Đại lý trong nước còn rất ngại, rất kén mặt hàng này.

Thật đáng tiếc cho những vườn cây ca cao hiện nay đang bị phá bỏ tại một số tỉnh miền Trung và Tây nguyên vì đã được tư vấn khá nóng vội từ các chương trình, dự án phát triển, muốn tăng nhanh diện tích và sản lượng. Đúng là “dục tốc bất đạt”.

Như một luật bù trừ, ca cao trồng dễ nhưng chế biến khó hơn cà phê, tiêu… phải được huấn luyện và cần bàn tay chuyên nghiệp. Để bán ra được thị trường, hạt ca cao phải qua một quá trình lên men công phu, cần được theo dõi, chăm sóc kỹ. Nhiều chuyên gia thử nếm vẫn nói chất lượng “nội tại” của hạt ca cao Việt Nam nói chung rất tốt, có nét đặc thù. Nhưng không phải ai cũng đều chú trọng đến điều ấy. Vì, một số nhà kinh doanh chỉ nhìn đến giá.

Cho nên, tuy lượng hạt có thể xuất khẩu chỉ chừng dưới 5.000 tấn/năm, nhà cung cấp đã phải nhức đầu: có hãng kinh doanh chỉ yêu cầu tỷ lệ lên men 90% tối thiểu, nhưng cũng có người đòi mua 60% tối đa! Do vậy, chênh lệch giá mua giá bán của nhiều hãng, nhiều vùng khác nhau, chênh lệch đáng kể, gây thành chuyện mất niềm tin vào thị trường ngay từ những bước ban đầu khi nông dân mới gia nhập thị trường. Vì chẳng biết tin ai, nhiều nông dân yếu tay nghề cũng đòi tự mình lên men cho chính sản phẩm nhỏ bé mình làm ra. Hệ quả là chất lượng hạt xuất khẩu của cả nước không đồng đều, lại quay lại ảnh hưởng xấu đến giá bán.

Chính vì vậy mà Tổ chức Helvetas (Thụy Sĩ) tại Việt Nam đã lên tiếng trong kỳ hội thảo ca cao bền vững tại TP Hồ Chí Minh trong năm 2012 rằng chất lượng ca cao lúc đầu rất tốt, nhưng sau đó, ai đòi lên men nấy, chất lượng sản phẩm ngày càng giảm.

Từ đầu thập niên 2000, ca cao là một thị trường hàng hóa có giá dao động phức tạp và thường bị đầu cơ khống chế. Tại các thị trường hàng thực và kỳ hạn, đã nhiều lần giá ca cao bị đầu cơ đưa lên mức cao kỷ lục, làm điêu đứng nhiều hãng chế biến ca cao và các sản phẩm ca cao như sô-cô-la tại các nước phương Tây.

Khuyến khích vội vàng, thúc đẩy ta trồng ca cao cũng có thể được hiểu là các nhà chế biến thế giới muốn tìm một nước sản xuất có khả năng phát triển nhanh số lượng lớn, bảo đảm được nguồn cung cấp ca cao ổn định, nhằm thay thế khi đầu cơ làm chủ giá và sản lượng các nước sản xuất lớn hiện nay như ở châu Phi chẳng hạn. Hiện nay, cũng chỉ có Việt Nam mới làm nên chuyện thần kỳ này.

Thế nhưng, không nhất thiết bạn gấp thì ta phải vội. Vì, nếu không tính toán kỹ, không chỉ lãng phí lớn, mà còn ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người trồng ca cao. Nên chăng, nên trồng xen, trồng như sản phẩm phụ, tuy sản lượng có thấp, nhưng cây ca cao còn có cơ hội sống chung lâu bền với nông dân, áp dụng câu “được mùa chớ phụ ngô khoai”, còn hơn để họ phải chặt phá do không hiệu quả kinh tế như hiện nay tại một số nơi.

Nguyễn Quang Bình/ TBKTSG

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét