Nhiều ruộng cỏ trồng cả năm mà không có khách mua, đẩy nông dân vào cảnh “hoạ vô đơn chí”. Những thửa ruộng cỏ nhung xơ xác, chỗ lồi chỗ lõm mọc xen lẫn rau má, cỏ sam... là hình ảnh đầu tiên chúng tôi bắt gặp khi đến thôn Phú Diễn, xã Phú Diễn. Hỏi ra mới biết, vì không có người mua nên nhiều nông dân đành ngậm đắng nuốt cay để cỏ mọc hoang cả năm trời.
Vừa cầm xẻng cắt từng mảng cỏ để xuất bán, bà Chu Thị Thái vừa than thở: “Ruộng cỏ của nhà tôi đã trồng được hơn 1 năm nay, đáng lẽ phải xuất bán từ 6 tháng trước rồi, thế nhưng ngóng mãi vẫn chả thấy ai hỏi mua. Vì để lâu quá, nhiều cây cỏ đã bị chết và chồi lên mầm mới. Suốt ngày vợ chồng phải quần quật ngoài này, hết gánh nước tưới, bón phân, nhổ cây dại lại đến cắt cỏ. Công sức bỏ ra nhiều gấp 4 - 5 lần trồng lúa mà thu nhập chỉ được vài đồng”.
Ông Đinh Xuân Hồng, người chuyên trồng cỏ nhung Nhật Bản, cũng là đầu mối thu mua cỏ nhung trong xã cho biết, nghề trồng cỏ nhung ở đây đã phát triển được hơn một thập kỷ, do ông Đinh Xuân Phồn khởi xướng. Từ năm 2007 trở về trước, đất đai sốt sình sịch, các khu chung cư, biệt thự, công viên mọc lên như nấm. Cỏ vừa mới trồng đã có khách đến đặt mua.
Đất không được quay vòng sử dụng, công sức của người dân bỏ ra bao nhiêu cũng bằng không, thế nên hiệu quả kinh tế từ trồng cỏ thấp hơn rất nhiều loại cây trồng khác
Có thời điểm giá cao ngất ngưởng tới 70.000 - 80.00 đ/m2 cỏ. Người người, nhà nhà chuyển sang trồng cỏ nhung. Thế nhưng bây giờ tình thế hoàn toàn trái ngược. Doanh nhân phá sản, nhiều dự án xây dựng đứt gánh giữa đường vì thiếu vốn, giá cỏ giảm 4 - 5 lần, chỉ còn 15.000 - 20.000 đ/m2 mà đầu ra vẫn èo oặt.
Bắt đầu từ năm 2008, đầu ra của sản phẩm cỏ nhung Nhật Bản có dấu hiệu chững lại, mở màn cho chu kỳ giảm giá. Đến năm 2010, tình hình ngày một khó khăn, nhiều nông dân đã chuyển đổi đất trồng cỏ sang trồng các loại cây ăn quả (bưởi, xoài, vải, đu đủ…) và rau xanh.
Ông Đặng Văn Lý, trưởng thôn Phú Diễn nói: “Thời điểm 2006, diện tích trồng cỏ nhung Nhật của thôn lên đến 10 ha. Không có đủ đất SX, nhiều người phải thuê ruộng và hàng chục lao động để trồng cỏ quy mô lớn (từ 7 - 8 sào đến hàng mẫu) như ông Đinh Xuân Phồn, Đinh Xuân Hồng, Đặng Thị Bính, Phí Văn Nguyên…
Nhưng bây giờ, diện tích trồng cỏ chỉ hơn 6 ha. Hầu hết những "đại gia" cỏ không còn mặn mà với nghề nữa. Điển hình như gia đình ông Phồn chuyển sang đầu tư trồng cây cảnh, cây bóng mát trên tỉnh Hòa Bình; ông Phí Văn Nguyên bỏ hẳn, còn bà Đặng Thị Bính chỉ trồng cầm canh khoảng 2 sào. Hiện tại, duy nhất ông Đinh Xuân Hồng là giữ được quy mô trồng cỏ nhung lên tới hơn 1 mẫu, nhưng cũng có xu hướng thu hẹp dần”.
Nhiều nông dân ở thôn Phú Diễn cho biết, so với những cây trồng khác, cỏ nhung Nhật Bản có khả năng sinh trưởng trong những điều kiện thời tiết khác nhau, ít sâu bệnh nên chi phí cho giống, phân bón và vật tư thấp (chỉ khoảng 1 triệu đ/sào). Tuy nhiên, vì không được phép sử dụng bất cứ một loại thuốc diệt cỏ nào nên phải bỏ ra rất nhiều công sức để nhặt cây dại, tốn nhiều tiền thuê lao động.
Nếu thời tiết thuận lợi, mưa thuận gió hoà thì mỗi năm cho thu hoạch 2 - 3 lứa, tính theo giá thị trường như hiện nay thì được khoảng 10 triệu đ/sào/năm. Tuy nhiên, vì không tìm được người mua nên có khi ruộng cỏ trồng cả năm mà vẫn chưa bán được.
Ông Đinh Xuân Hồng cũng chia sẻ, ngoài khó khăn về đầu ra của sản phẩm cỏ nhung thì còn một khó khăn khác đang trở thành lực cản cản trở hoạt động SXNN của địa phương. Đó là tình trạng thiếu nước do hệ thống kênh mương chưa được đầu tư xây dựng. Tỉ lệ mương đất vẫn còn nhiều, vừa nông lại vừa hẹp nên mỗi khi mưa to là cả đồng bị ngập úng, còn mùa khô thì thiếu nước trầm trọng, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cũng như năng suất của cỏ.
Minh Phúc/ Báo Nông nghiệp Việt Nam
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét